Hội nghị Toàn quốc lần thứ tư Hệ thống Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam (diễn ra vào ngày 18/5/2026) đã thành công rực rỡ với nhiều kết quả ấn tượng. Với sự tham gia của đông đảo các nhà khoa học, nhà quản lý, chuyên gia trong và ngoài nước, Kỷ yếu của Hội nghị năm nay là minh chứng rõ nét cho năng lực nghiên cứu mạnh mẽ và tiềm lực khoa học to lớn của toàn Hệ thống Bảo tàng Thiên nhiên ở Việt Nam.
Kỷ yếu Hội nghị năm nay tập hợp tổng cộng 69 bài báo khoa học chất lượng cao, bao quát rộng lớn các lĩnh vực từ nghiên cứu cơ bản, bảo tàng đến ứng dụng thực tiễn. Các nội dung được phân định rõ ràng trong 5 nhóm chủ đề chuyên sâu, phản ánh đầy đủ bức tranh hoạt động và những bước chuyển mình mạnh mẽ của Hệ thống Bảo tàng Thiên nhiên ở Việt Nam.
1. Bảo tàng học: Với 7 công trình nghiên cứu chuyên sâu, nhóm chủ đề Bảo tàng học năm nay tập trung giải quyết các bài toán hiện đại hóa cốt lõi:
- Kỹ thuật bảo quản và chế tác mẫu vật: Đưa ra các giải pháp tiên tiến về xử lý hóa chất, phục dựng, nhồi bông mẫu vật (cả sinh học lẫn địa chất) và nhựa hóa. Các nghiên cứu đặc biệt chú trọng đến tính bền vững của mẫu vật dưới tác động khắc nghiệt của khí hậu nhiệt đới gió mùa tại Việt Nam.
- Chuyển đổi số và không gian trưng bày thông minh: Đây là xu hướng đột phá được ghi nhận tại hội nghị với các giải pháp số hóa cơ sở dữ liệu mẫu vật, ứng dụng công nghệ 3D, thực tế ảo (VR) và thực tế tăng cường (AR) nhằm xây dựng các không gian tương tác hiện đại, nâng cao trải nghiệm học tập sinh động cho công chúng.
- Kinh nghiệm quốc tế về trưng bày chuyên đề: Điểm nhấn đáng chú ý là phần trình bày của PGS. Toshufumi Komatsu đến từ Nhật Bản, giới thiệu về mô hình Bảo tàng Khủng long. Báo cáo đã chia sẻ những kinh nghiệm thực tiễn quý báu từ công tác sưu tầm, phục dựng hóa thạch cho đến cách thức thiết kế không gian trưng bày sống động. Đây là bài học kinh nghiệm quan trọng, mang lại những gợi ý hữu ích cho quá trình hiện đại hóa và xây dựng các không gian trưng bày cổ sinh vật học hấp dẫn tại hệ thống bảo tàng trong nước.

PGS. TS. Vũ Văn Liên trình bày báo cáo “Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam – 20 năm hình thành và phát triển”

PGS. Toshufumi Komatsu đến từ Nhật Bản, giới thiệu về mô hình Bảo tàng Khủng long
2. Khoa học sự sống: Bao gồm 28 bài báo, lĩnh vực này trình bày các kết quả nghiên cứu phong phú về khu hệ động, thực vật ở Việt Nam từ các nhóm tuyến trùng, giáp xác, rong biển, nấm đến thực vật bậc cao, nhện và bướm.
- Phạm vi không gian được mở rộng từ vùng biển, hải đảo đến khu vực trung du, vùng núi cao, bao quát các nghiên cứu về hệ thống học, sinh học, sinh thái học, và hoạt chất sinh học tiềm năng.
- Đặc biệt, việc kết hợp phương pháp truyền thống với các công nghệ hiện đại (sinh học phân tử, kính hiển vi điện tử quét SEM) đã đạt nhiều kết quả nổi bật. Tiêu biểu như: nghiên cứu khu hệ bướm của TS. Monastyrskii (LB Nga); phân tích hình thái bào tử chi Ráng qua kính SEM của TS. Lữ Thị Ngân; và nhận dạng động vật hình nhện bằng Gen COI của TS. Dương Văn Tăng. Các công trình này được giới chuyên môn đánh giá rất cao về năng lực làm chủ công nghệ hiện đại và hội nhập quốc tế.

TS. Monastyrskii (LB Nga) trình bày báo cáo “The history of butterfly faunal studies in Vietnam”

TS. Lữ Thị Ngân trình bày báo cáo “Hình thái bào tử qua kính hiển vi điện tử quét (SEM) của một số đại diện trong chi Ráng nhiều hàng - (Polystichum) ở Việt Nam”
3. Khoa học Trái đất: Là mảng nội dung mang tính nền tảng với 17 bài báo, nhóm tập trung điều tra, thu thập và giải mã các giá trị địa chất, cổ sinh học, khoáng thạch và địa mạo. Tại hội nghị, nhiều chuyên gia đầu ngành đã đưa ra các kiến nghị quan trọng:
- PGS. TS. Nguyễn Ngọc Trường nhấn mạnh tinh thể, khoáng vật là di sản quý giá không tái tạo, đây cũng là định hướng cho trưng bày đá, khoáng vật trong nhà và ngoài trời cho Dự án xây dựng Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam tại Kiều Phú, TP Hà Nội trong thời gian tới. Ông đề nghị nên giao cho Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam các nhiệm vụ đánh giá, trưng bày và bảo tồn các "Bảo vật quốc gia" (như khối đá quý Ruby sao- mỏ Tân Hương), đồng thời đề xuất cơ chế, chính sách bảo tồn tài nguyên.

PGS. TS. Nguyễn Ngọc Trường trình bày báo cáo “Tóm tắt vai trò của tinh thể - khoáng vật trong Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam”
- GS. TS. Trần Nghi trình bày về lịch sử hình thành và tầm quan trọng của hệ thống hang động karst đồ sộ tại Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng. Qua đó, GS đề nghị sửa đổi logo của Bảo tàng để thể hiện rõ tính liên ngành giữa Khoa học Trái đất và Khoa học sự sống.

GS. TS. Trần Nghi trình bày báo cáo “Giá trị các di sản địa chất trầm tích Việt Nam, quản lý và phát triển bền vững”
- TS. Nguyễn Thị Thu Cúc đánh giá các di sản địa chất tại Lạng Sơn qua 6 tiêu chí và đề xuất mô hình SWOT phát triển du lịch bền vững. Báo cáo cũng chỉ ra thách thức bảo tồn tại các công viên địa chất và đề xuất chú trọng thiết lập biển chỉ dẫn, phát triển không gian bảo tàng ngoài trời.

TS. Nguyễn Thị Thu Cúc trình bày báo cáo “Di sản địa chất và tiềm năng du lịch địa chất tại vùng Hữu Lũng, Bắc Sơn, Lạng Sơn”
4. Nghiên cứu liên ngành: Với 5 bài báo khoa học chất lượng cao, nhóm Liên ngành đã làm nổi bật vai trò ứng dụng của bảo tàng thông qua mô hình tích hợp "Đào tạo – Nghiên cứu – Phát triển thực tiễn":
- Giao thoa giữa Khảo cổ sinh học và Lịch sử tự nhiên: Phục dựng lại các nền văn hóa tiền sử (như Văn hóa Hòa Bình) dựa trên di vật đá, xương và vỏ nhuyễn thể trong hệ thống hang động vùng đệm Cúc Phương.
- Ứng dụng bảo tồn gắn với kinh tế xanh: Đánh giá các điểm di sản để phát triển mô hình Công viên Địa chất toàn cầu và du lịch địa chất bền vững, góp phần nâng cao đời sống cho cư dân bản địa.
- Định hướng mô hình Trạm nghiên cứu: Đề xuất xây dựng các trạm nghiên cứu thực địa (như Trạm Tam Đảo) để thiết lập chu trình khép kín: Khảo sát, thu thập ngoài tự nhiên – Phân tích hiện trường – Lưu trữ, trưng bày tại bảo tàng.
Trong khuôn khổ hội thảo, TS. Lê Hải Đăng đã trình bày với chủ đề “Phát hiện mới về Văn hóa Hòa Bình (vùng đệm Vườn quốc gia Cúc Phương)”: Công bố các phát hiện khảo cổ tại khu vực chuyển tiếp giữa Hòa Bình và Phú Thọ (hang Hiêm, hang Đẻn Rẳm, mái đá Đa Phúc...). Tìm thấy nhiều hiện vật đá, gốm, xương có niên đại khoảng 9.140 - 9.240 năm trước và cảnh báo về tình trạng các di tích bị xâm hại.

TS. Lê Hải Đăng trình bày báo cáo “Phát hiện mới về các di tích văn hóa Hòa Bình ở khu vực vùng đệm phía Tây Nam của Vườn Quốc gia Cúc Phương”
5. Giới thiệu chung: Với 12 bài báo, mảng nội dung này tập trung vào định hướng chiến lược, quy hoạch tổ chức và chia sẻ nguồn lực:
- Khẳng định vị thế: PGS. TS. Nguyễn Thành Nam đã giới thiệu về Bảo tàng Sinh học (cơ sở 19 Lê Thánh Tông, Hà Nội). Là một trong những bảo tàng sinh học đầu tiên, nơi đây đang lưu giữ nhiều mẫu vật quý, trở thành nguồn tư liệu cốt lõi khẳng định vai trò của các đơn vị thành viên trong mạng lưới quốc gia.
- Cơ chế phát triển bền vững: Hội nghị thảo luận sôi nổi về việc xây dựng quy chế bắt buộc hoặc khuyến khích chuyển giao các mẫu vật từ những đề tài, dự án khoa học cấp nhà nước về bảo tàng lưu trữ, thắt chặt liên kết giữa các trường đại học, vườn quốc gia, khu bảo tồn và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam nhằm tránh thất thoát di sản tri thức quốc gia.

PGS. TS. Nguyễn Thành Nam trình bày báo cáo “Báo cáo công tác hoạt động tổng kết 5 năm (2021-2025) Bảo tàng sinh học thuộc Bảo tàng Thiên nhiên cơ sở Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Hà Nội”
Lời kết
Thay mặt Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Tổng Giám đốc, PGS. TS. Nguyễn Trung Minh phát biểu tổng kết: Hội nghị Toàn quốc lần thứ tư Hệ thống Bảo tàng Thiên nhiên ở Việt Nam không chỉ là nơi hội tụ các công trình nghiên cứu đa ngành mà còn vạch ra lộ trình phát triển rõ ràng cho tương lai: Nâng tầm nghiên cứu, phân loại, giám định, hiện đại hóa công nghệ, phổ biến kiến thức khoa học tự nhiên và mở rộng liên kết mạng lưới để đưa các giá trị di sản thiên nhiên phục vụ thiết thực cho phát triển kinh tế, khoa học, giáo dục và phát triển bền vững.
Tin bài: TS. Doãn Đình Hùng, PGS. TS. Đỗ Văn Trường (Thư ký Hội thảo), Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam
