Trang chủ  Thư điện tử  Liên hệ

Tìm kiếm: Tìm kiếm nâng cao
Dự án đầu tư xây dựng bảo tàng
Hợp tác quốc tế và giáo dục
Nghiên cứu và sưu tập mẫu
Bộ sưu tập mẫu vật
Tin được đọc nhiều nhất
Thống kê
Số người online : 6
Số lượt truy cập : {8668}
Đối tác
Đang duyệt:Sinh học
ĐA DẠNG CÁC LOÀI RẮN ĐỘC Ở VIỆT NAM

     Việt Nam hiện biết là nơi cư ngụ của 193 loài rắn thuộc 69 giống, 8 họ. Trong số đó ghi nhận tổng số 53 loài rắn độc gồm 35 loài (15 giống) thuộc họ Rắn hổ Elapidae và 18 loài (8 giống) thuộc họ Rắn lục Viperidae.

Việt Nam được biết đến là một đất nước có đa dạng sinh học phong phú và mang tính đặc hữu cao, đặc biệt là các loài bò sát và ếch nhái. Các loài rắn độc của Việt Nam không chỉ phổ biến trong việc sử dụng làm thuốc cổ truyền mà còn được coi là nhóm bò sát có tính đa dạng về thành phần loài. Cho đến nay Việt Nam hiện biết là nơi cư ngụ của 193 loài rắn thuộc 69 giống, 8 họ. Trong số đó ghi nhận tổng số 53 loài rắn độc gồm 35 loài (15 giống) thuộc họ Rắn hổ Elapidae và 18 loài (8 giống) thuộc họ Rắn lục Viperidae.

Bên cạnh đó, sự phân bố theo vùng địa lý của các loài rắn độc cũng khác nhau: 12 loài chỉ ghi nhận ở miền Bắc, 19 loài chỉ ghi nhận ở miền Nam và 22 loài ghi nhận ở cả hai miền đất nước. Có 5 loài hiện được coi là đặc hữu của Việt Nam gồm: Rắn cạp nia s-lo-win-s-ki Bungarus slowinskii, Đẻn xanh lơ Hydrophis parviceps, Rắn lục hòn sơn Cryptelytrops honsonensis, Rắn lục trùng khánh Protobothrops trungkhanhensis và Rắn lục trường sơn Viridovipera truongsonensis. Đáng chú ý là sau công bố của Wuester et al. (1995), loài Rắn hổ mang trước đây có tên là Naja naja hiện đã được tách thành 3 loài riêng biệt: loài Rắn hổ mang trung quốc N. atra phân bố ở miền Bắc, hai loài Rắn hổ mang một mắt kính N. kouthia và Rắn hổ mang xiêm N. siamensis ghi nhận ở miền Nam. Chưa có đánh giá chi tiết nào về việc sử dụng các loài rắn ở Việt Nam, tuy nhiên, rắn được thu thập để làm thực phẩm, lấy nọc độc, làm thuốc cổ truyền và dùng trong kỹ nghệ da. Các loài rắn độc phổ biến dùng ngâm rượu là các loài rắn cạp nia (Bungarus spp.), rắn hổ mang (Naja spp.), và Hổ chúa Ophiophagus hannah. Rắn biển đôi khi được dùng ngâm rượu nhưng chúng thường được dùng để làm thực phẩm ở các khu vực ven biển.  Do việc nuôi giữ rắn độc để làm cảnh có thể gây nguy hiểm với con người nhưng một số loài có màu sắc đẹp, có khả năng nuôi làm cảnh như: Rắn lá khô đầu hình V Sinomicrurus kellogi, Rắn lá khô thường S. macclellandi, Rắn lục đầu bạc Azemiops feae.

 Một số hình ảnh các loài rắn độc Việt Nam:

 

Deinagkistrodon acutus -Rắn lục mũi hếch

Azemiops feae -Rắn lục đầu bạc

Azemiops feae -Rắn lục đầu bạc

Protobothrops jerdoni bourreti -Rắn lục giec-don

Protobothrops jerdoni bourreti -Rắn lục giec-don

Naja siamensis -Rắn hổ mang xiêm

Naja siamensis -Rắn hổ mang xiêm

Viridovipera vogeli -Rắn lục von-gen

Viridovipera vogeli -Rắn lục von-gen      Việt Nam đã thành lập nhiều vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên để bảo vệ cảnh quan và tài nguyên sinh vật. Theo số liệu của Tổ chức Bảo tồn chim quốc tế, đến năm 2004 Việt Nam có 208 khu bảo tồn hiện có và đề xuất. Các khu bảo tồn này đã góp phần quan trọng trong công tác bảo vệ và gìn giữ sinh cảnh sống của các loài động vật hoang dã trong đó có các loài rắn. Bên cạnh 4 loài rắn độc gồm 3 loài thuộc giống Rắn hổ mang (Naja) và loài rắn hổ chúa (Ophiophagus hannah) được ghi trong Phụ lục II của Công ước CITES (có hiệu lực từ ngày 1/7/2008); có 8 loài được luật pháp Việt Nam bảo vệ gồm: Hổ chúa Ophiophagus hannah ghi trong nhóm IB (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại), 4 loài thuộc giống Rắn cạp nia (Bungarus) và 3 loài thuộc giống Rắn hổ mang (Naja) ghi trong nhóm IIB (hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) của Nghị Định 32/2006/NĐ-CP của Chính phủ (2006). Chỉ có loài Rắn lục sừng Protobothrop cornutus ghi trong Danh lục Đỏ IUCN (2009) ở bậc DD (thiếu dẫn liệu). Trong Sách Đỏ Việt Nam (2007) có 6 loài rắn độc gồm: 1 loài ở bậc cực kỳ nguy cấp, CR (Rắn hổ chúa Ophiophagus hannah); 4 loài ở bậc nguy cấp, EN (Rắn cạp nong  Bungarus fasciatus và 3 loài rắn hổ mang Naja spp.); và 1 loài ở bậc sẽ nguy cấp, VU (Rắn lục đầu bạc Azemiops feae).

     Tóm lại, có thể coi sự đa dạng về thành phần loài và mật độ quần thể của các loài rắn độc là những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá giá trị đa dạng sinh học và chất lượng cảnh quan tự nhiên của một khu vực. Bên cạnh đó, nọc rắn, thịt rắn và da rắn cũng có giá trị kinh tế cao do chúng có thể sử dụng cho nhiều mục đích như dược liệu, thực phẩm và mỹ nghệ. Vì vậy việc nghiên cứu và sử dụng hợp lý các loài rắn độc ở Việt Nam không chỉ góp phần bảo tồn đa dạng sinh học mà còn giúp phát triển kinh tế ở các làng nghề chăn nuôi và chế biến các sản phẩm từ rắn.

Bài và ảnh: Nguyễn Thiên Tạo

Lượt đọc: 66219 - Cập nhật: 10-06-2010
Về trang trước Về trang trước    Thêm vào Favorites Thêm vào Favorites    In bản tin In bản tin    Gửi cho bạn bè Gửi cho bạn bè    Về đầu trang Về đầu trang
 
 
Tin nổi bật
Mẫu vật mới
     Chào mừng ngày Quốc tế Bảo tàng (18 - 05), chiều ngày 16 tháng 5 Chi đoàn Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam phối
Loài mới này đã được mô tả trong một bài báo trên tạp chí ZooKeys, có tên là nhện cửa sập hổ nâu vàng, Myrmekiaphila tigris,
Nhện Goliath Tarantulas, Động vật ăn thịt đáng sợ     Có điều gì đó đặc biệt về loài nhện mà nó làm cho
     Chuồn chuồn là nhóm côn trùng ăn thịt cả ở giai đoạn ấu trùng và trưởng thành. Chúng thường bay lượn
     Cúc Phương là Vườn Quốc gia đầu tiên của Việt Nam, được thành lập năm 1962, với diện tích 22.000 ha,
Đăng nhập
Email:
Mật khẩu:
Quên mật khẩu
Đăng ký tài khoản
Hỗ trợ trực tuyến
Đt: 04 3756 8328
Hotline: 04 3756 8328
   Hỗ trợ kỹ thuật
   Hỗ trợ thông tin
Liên kết website
Quảng cáo
 

Bản quyền: Bảo Tàng Thiên Nhiên Việt Nam.
Địa chỉ: Số 18A, Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy, Hà Nội
ĐT: (+84-4) 3756 8328                Fax: (+84-4) 3756 8328
Email: vnmn@vnmn.ac.vn      Website: http://www.vnmn.ac.vn

Designed by
ECOPRO